BUCARVIN
Thành phần dược chất: Bupivacaine hydrochloride…..20 mg Thành phần tá dược: Dextrose monohydrat 320mg. Nước để pha thuốc tiêm vđ 4ml
Gây tê cột sống trước các phẫu thuật đòi hỏi dạng vô cảm này như: Phẫu thuật chi dưới, phẫu thuật niệu khoa liên quan đến nội soi hoặc qua bằng đường ổ bụng, các phẫu thuật phụ khoa, mổ đẻ, các phẫu thuật bụng dưới rốn.

Liều dùng:

Nên dùng thuốc tê ở nồng độ thấp nhất và ở liều cần thiết thấp nhất đề gây tê có hiệu quả.

Bảng dưới đây trình bày những liều trung bình dược khuyến nghị:

  • Người lớn và trẻ em từ 12 tuổi hoặc từ 40 kg trở lên: 5 – 20 mg tương đương 1 – 4 ml
  • Trẻ em dưới 12 tuổi hoặc dưới 40 kg

+) Trẻ em < 5 kg 0,5 mg/kg tương đương 0,1 ml/kg

+) 5 -15 kg 0,4 mg/kg tương đương 0,08 ml/kg

+) >15 kg 0,3 mg/kg tương đương 0,06 ml/kg

Gây tê tủy sống bằng cách tiêm dung dịch bupivacain ưu trương vào ống sống chi được thực hiện một lần với dung dịch không có bọt khí. Liều khuyến nghị trong bảng trên chỉ là một hướng dẫn đối với một người lớn trung bình, được định nghĩa là một người đàn ông trẻ tuổi cân nặng 70 kg. Có thể tăng hoặc giảm lượng thuốc được tiêm tùy theo trọng lượng của bệnh nhân và đặc biệt là tùy theo thời gian phong bế cảm giác mong muốn ở mức đủ để phẫu thuật cũng như tùy theo mức độ phong bế vận động mong muốn.

Tổng liều tiêm không được quá 20 mg. Trẻ em Tổng liều tiêm không được quá 20 mg bất kể trọng lượng bệnh nhân là bao nhiêu.

Khi gây tê tủy sống, cần nhớ rằng sự lan rộng của tình trạng vô cảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm thể tích được tiêm và tư thế của bệnh nhân trước khi và trong khi tiêm. Vì có thể có nguy cơ phong bế tủy sống quá mức, nên giảm liều trên người cao tuổi và trong trường hợp áp suất ổ bụng cao (người béo phì, cổ trướng hoặc giai đoạn cuối của thai kỳ). Do dung dịch ưu trương, sự phân bố bupivacain dùng gây tê tủy sống trong dịch não tủy chịu ảnh hưởng của tư thế bệnh nhân. Có thể thực hiện phong bế hình yên (gây tê khoang cùng) bằng cách tiêm khi bệnh nhân ở tư thế ngồi và vẫn để bệnh nhân ngồi khoảng 10 phút. Khi tiêm ở tư thế nằm nghiêng một bên, tùy theo góc của cột sống, bupivacain có thể lan lên phía trên hoặc phía dưới. Nếu bệnh nhân được đặt ở tư thế Trendelenburg trong một thời gian dài, có nguy cơ phong bế lan lên cổ

Cách dùng

Bupivacain chỉ được dùng bởi hoặc dưới sự giám sát của bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm gây tê cục bộ và gây tê vùng. Tất cả dụng cụ và thuốc men cần thiết để theo dõi và hồi sức cấp cứu phải sẵn sàng để dùng ngay (xem mục cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Phải có đường truyền tĩnh mạch trên bệnh nhân trước khi tiêm thuốc phong bế thần kinh ngoại biên hoặc trung ương hoặc tiêm thấm lớp với những liều lớn. Phải theo dõi điện tâm đồ (ECG) liên tục. Nên tiêm dung dịch ở nhiệt độ khoảng 20°c, vì tiêm dung dịch ở nhiệt dộ thấp hơn có thể gây đau. Phải áp dụng các quy tắc sau đây. Không có quy tắc nào trong số này có thể loại trừ tất cà các nguy cơ tai biến (đặc biệt là tai biến co giật hoặc tai biến tim); mặc dù vậy, chúng có thể làm giảm tần suất và độ nặng của những tai biến trên. Nên cẩn thận hút bơm tiêm trước và trong khi tiêm để đề phòng tiêm vào mạch máu. Liều chính phải được tiêm chậm trong khi vừa theo dõi sát các chức năng sống của bệnh nhân vừa nói chuyện với họ. Nếu xảy ra các triệu chứng ngộ độc (xem mục Quá liều), phải ngừng tiêm ngay. Trong trường hợp tiêm một hỗn hợp thuốc tê, phải lưu ý đến nguy cơ gây độc của tổng liều được tiêm và phải triệt để áp dụng quy tắc độc tính tích lũy của hỗn hợp. Không được sử dụng lại ống thuốc sau khi đã mở. Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.

Tiền sử quá mẫn với thuốc tê loại amid hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc. Gây tê vùng đường tĩnh mạch. Các chống chi định chung cho gây tê tủy sống bao gồm: Bệnh nhân từ chối. Rối loạn đông máu. Suy tim, khi cần phong bế kéo dài. Viêm ngoài màng tim co thắt. Tăng áp lực nội sọ. Bệnh lý rễ thần kinh không kiểm soát, bệnh thần kinh ngoại vi không kiểm soát. Nếu có nghi ngờ, tham khảo ý kiến bác sĩ